Kháng thể và các cơ chế tác dụng

Kháng thể và các cơ chế tác dụng

Cơ chế tác dụng của kháng thể:

Kháng thể chống lại các tác nhân xâm nhập bằng hai cách: (1) tấn công trực tiếp trên tác nhân xâm nhập; (2) hoạt hóa hệ thống bổ thể để hệ thống này tiêu diệt tác nhân xâm nhập.

Kháng thể và các cơ chế tác dụng
Kháng thể và các cơ chế tác dụng

Tác dụng trục tiếp: do bản chất hai hóa trị của kháng thể và rất nhiều vị trí kháng nguyên trên hẫu hết tác nhân xâm nhập, nên kháng thể có thể làm bất hoạt tác nhân này bằng một trong các cách sau:

  • Ngưng kết: rất nhiều phân tử lớn với những kháng nguyên trên bề mặt (như vi khuẩn, hồng cầu) gắn với nhau thành một đám.
  • Kết tủa: phức hợp phân tử của kháng nguyên hòa tan (như độc tố uốn ván) và kháng thể trở thành lớn đến mức làm cho chúng trở nên không hòa tan và kết tủa xuống.
  • Trung hòa: kháng thể phủ lên những vị trí độc của tác nhân mang kháng nguyên.
  • Làm vỡ tế bào: một số kháng thể rất mạnh, có khả năng tấn công trực tiếp lên màng tế bào của tác nhân và làm vỡ tế bào.

Tuy nhiên, trong những điều kiện bình thường, tác dụng trực tiếp này không đủ mạnh để bảo vệ cơ thể. Hầu hết tác dụng bảo vệ là thông qua những tác dụng khuếch đại của hệ thống bổ thể.

-Hệ thống bổ thể đối với tác dụng của kháng thể:

Hệ thống bổ thể gồm khoảng 20 protein khác nhau, phần lớn là các tiền chất enzym. Các chất tác dụng chủ yếu trong hệ thống này là 11 protein. Bình thường tất cả những chất này có mặt trong các protein của huyết tương và cũng có trong những protein thoát khỏi mao mạch vào khoảng kẽ. Các tiền men này bình thường bất hoạt. Chúng có thể được hoạt hóa bằng hai con đường riêng rẽ gọi là con đường cổ diển và con đường xen kẽ.

Con dường cổ điển:

Con đường này được hoạt hóa bởi một phản ứng kháng nguyên-kháng thể. Nghĩa là, khi một kháng thể gắn với một kháng nguyên, một vị trí phản ứng đặc hiệu trên phần hằng định của kháng thể được bộc lộ (được hoạt hóa)và gắn trực tiếp với phân tử C1 của hệ thống bổ thể, khởi động chuỗi phản ứng theo kiểu bậc thang, bắt đầu bằng sự hoạt hóa của chính tiền men Ci. Chi cần một ít phức hợp kháng nguyên-kháng thể để hoạt hóa nhiều phân tử trong giai đoạn đầu của hệ thống bổ thể. Men C1 được tạo ra sẽ hoạt hóa liên tiếp để làm tăng lượng men trong các giai đoạn sau của hệ thống. Như vậy từ một sự khởi đầu rất nhỏ, một phản ứng được khuếch đại cực kỳ lớn đã xẩy ra. Rất nhiều sản phẩm cuối cùng được tạo thành, trong đó nhiều chất có tác dụng quan trọng giúp ngăn cản những tổn thương do tác nhân xâm nhập hoặc độc tố gây ra. Những tác dụng quan trọng nhất là:

  • Opsonin hóa và thực bào: một trong những sản phẩm của bậc thang bổ thế, C3b, hoạt hóa rất mạnh quá trình thực bào của cà bạch cầu hạt trung tính và đại thực bào để các tế bào này nuốt nhũng vi khuẩn đã có phức họp kháng nguyên-kháng thể gắn vào. Quá trình này được gọi là opsonin hóa, làm tăng số vi khuẩn bị tiêu diệt gấp hàng trăm lần.
  • Làm võ tế bào: phức họp làm vỡ tế bào là một sự kết họp cùa nhiêu yếu tố bổ thể, ký hiệu là C5b6789. Nó trục tiếp làm vồ màng tế bào của vi khuẩn hoặc những tác nhân xâm nhập khác.
  • Ngưng kết: sản phẩm bổ thể cũng làm thay dồi bồ mặt của tác nhân xâm nhập, làm chúng dính vào nhau gây ngưng kết.
  • Trung hòa các virus: các men bổ thê và các sản phẩm bổ thể khác có thể tấn công các cấu trúc của một sổ virus làm chúng trỏ thành không dộc.
  • Hoá ứng dộng: đoạn C5a hấp dẫn bạch cầu hạt trung tính và đại thực bào, làm cho một số lón bạch cầu di chuyển vào vùng có tác nhân kháng nguyên.
  • Sự hoạt hóa của dưỡng bào và bạch cầu ưa kiềm: các đoạn C3a, C4a, C5a đêu có tác dụng hoat hóa dưỗng bào và bach cầu ưa kiêm, làm chúng giải phóng histamin và một số chẩt khác vào dịch tại chỗ.

Các chất này làm tăng lưu lượng máu tại chỗ, làm tăng thoát dịch và protein huyết tuong vào mô và nhũng phản ứng khác cùa mô ỏ tại chỗ. Các phản ứng này làm bất hoạt hoặc bất động tác nhân kháng nguyên. Các yếu tố trên cũng đóng vai trò chủ yếu trong quá trình viêm, dị ứng.

  • Tác dụng gây viêm: ngoài tác dụng viêm do sự hoạt hóa các dưỗng bào và bạch cầu ưa kiềm, một số sản phẩm bổ thể cũng góp phần gây viêm tại chỗ.

Những sản phẩm này làm cho triêu chứng xung huyết tăng lên, sự thoát protein khỏi mao mạch tăng lên, protein bị đông trong các khoang kẽ, nhu vậy ngăn cản sự

vận động của các tác nhân qua các mô.

+ Con đường xen kẽ: Đôi khi hê thống bổ thể bị hoạt hóa không qua trung gian của phàn ứng kháng nguyên-kháng thé , đặc biệt khi có mặt các phân tử polysaccarid lốn trong màng tế bào của một số vi khuẩn xâm nhập. Nhũng chất này phàn úng vói các yếu tố bổ thể B và D, tạo ra một sản phẩm hoạt động để hoạt hóa yếu tố C3 tách khỏi phần còn lại của hệ thống bổ thể mức C3. Nhu vậy mọi sản phẩm cuối cùng của hệ thống duọc tạo ra nhu con đuòng cổ dien và chúng cổ cùng những tác dụng nhu dã liệt kê ỏ trên.

Vì con duòng xen kẽ không phụ thuộc vào phản ứng kháng nguyên-kháng thề , nên nó là một trong nhũng hàng rào bào vệ dầu tiên chổng vi khuẩn xâm nhập, và có khả nãng hoạt dộng truóc khi cơ thế đuợc miễn dịch dể chống lại tác nhân.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *